Tựa

Tuệ Sĩ dịch

Tập sách này hy vọng hoàn thành hai chủ đích. Thứ nhất, nó nhằm cung cấp một hướng dẫn tổng quát trong lãnh vực triết học hiện đại cho những độc giả không chuyên môn về vấn đề này; thứ hai, mong rằng những vị đã hoàn tất đại cương này sẽ tìm thấy ở đây những hứng khởi cho những nghiên cứu của mình có hệ thống hơn. Một công việc với hai chủ đích như thế thật là cấp thiết. Ngoại trừ tác phẩm bằng tiếng Ý của M. F. Sciacca, thực sự chúng ta không có một cương lĩnh nào nói đến dòng phát triển hiện hành của những kiến thức và những tiến bộ mới mẻ của tư tưởng hiện đại. Tôi nghĩ rằng tác phẩm giới thiệu này thỏa mãn hoàn toàn chủ đích thứ hai của tôi mà quyển sách rất hay của Sciacca lại không có.
Đó là những nhận định đã khiến tác giả bắt tay vào công việc khó nhọc cho tác phẩm này; khó nhọc bởi ba lý do. Thứ nhất, vì thời gian dành cho biên soạn lâu dài nên tác giả phải bỏ qua những khảo cứu chỉ chuyên về một triết gia và sử gia của triết học. Kế đó, tác giả đã thấy rõ rằng một tác phẩm như thế không thể nào đầy đủ được. Giới hạn này đã được một trong những triết gia lỗi lạc nhất của thời đại chúng ta, Bertrand Russell, bộc lộ trong Lịch sử triết học Tây phương của ông, khi ông đề cập đến điều đó mà chính ông cũng đã bận tâm; và điều ông nói rất đúng cho trường hợp của tập sách này. Cái kiến thức mà cả một đời nghiên cứu cần thiết để hiểu sâu một triết gia không phải là một mối khích lệ để viết một tác phẩm loại này.
Sau hết, những tác phẩm như thế đòi hỏi phải làm công việc đại cương và cắt xén một cách bất nhẫn. Tuy nhiên, không thể làm khác đi được vì số trang dành cho mỗi một triết gia rất có hạn. Cho nên, độc giả sẽ thấy rõ triết học của một Whitehead, một Bergson hay một Husserl phải chịu những số phận như thế nào. Mong các tư tưởng gia đó khoan thứ cho tác giả!
Dù chủ đích của tập sách này như một tường trình, nó vẫn có chiều hướng nhất định của nó, chiều hướng ấy phải được giới thuyết ngay từ bắt đầu.
Tôi không nghĩ là có thể tránh khỏi những nhận định giản lược đối với những hệ thống khác nhau được trình bày. Ai cũng nghĩ rằng sử gia của tư tưởng phải giữ một lập trường trung dung đối với những tư tưởng gia mà ông bàn đến. Điều này chỉ đúng một phần. Khi nào nó đòi hỏi tính chất rất là khách quan trong việc tuyển lựa và giải thích các hệ thống thì luận đề mới có giá trị và đó là thái độ mà tôi phải hết sức y theo; nhưng nó không đúng, nếu thái độ ấy có nghĩa rằng ta phải nhận định các hệ thống triết học như là chứa đựng một phần chân lý như nhau. Tin tưởng như vậy là chúng ta sẽ thiếu sót quan tâm dành cho các triết gia ; bởi vì các hệ thống mâu thuẫn lẫn nhau – và đó là sự thực – nhưng tất cả đều có cùng giá trị như nhau, thì tất cả đều sai lầm và chỉ có thể đáng được coi là những tác phẩm nghệ thuật. Điều này sẽ là một ngộ nhận lớn nhất đối với tư tưởng của những triết gia chính hiệu. Vì họ thảy đều là những kẻ phụng sự cho một chân lý duy nhất và ta phải xét họ theo tiêu chuẩn đó. Như thế, song song với những trình bày của tôi về các tư tưởng gia khác nhau, sự diễn tiến của những chủ trương chính yếu của họ và thẩm định những cống hiến thiết thực và lâu dài của họ, tôi cũng đưa ra những khía cạnh khiếm khuyết và phiến diện của họ, theo quan điểm của tôi ; đó chỉ là một việc làm phát xuất từ chỗ quan tâm. Những phê bình này – thực ra chỉ là những ghi chú ngoài lề - được đưa ra từ lập trường của một nền siêu hình học duy thực và duy linh.
Tuy nhiên, vấn đề lập trường ấy là phụ ; điều quan trọng là chúng ta phải nhấn mạnh trên hai quan điểm chỉ đạo chi phối việc làm của chúng tôi. Như vậy, ngay đây ta phải bàn về những điểm ấy để tác giả có thể khởi sự một cách chí lý.
Trước hết là vấn đề thẩm định đúng mức toàn thể nỗ lực triết học trong lòng lịch sử. Người ta thường đánh giá quá thấp tầm mức của nó. Họ cho rằng triết học chỉ là một thứ tư biện trừu tượng về cái không quan trọng đối với sự sống, và chỉ cần nghiên cứu những khoa học thực tiễn như xã hội học, kinh tế học và chính trị học cũng đủ vì chúng là tinh hoa của những tiến bộ kỹ thuật (kể cả giáo dục và kỹ nghệ). Bởi vì, sống đã rồi hãy triết lý (Primrum vivere, deinde philosophari), « làm triết lý » (philosophari) không thêm chi cho sự sống. Ý kiến này, rất phổ thông ở ngày nay, tôi cho là sai lầm và là một thố ngộ tinh thần tai hại. Bởi lẽ, nếu khoa học và kiến giải được giới hạn vào những khía cạnh kỹ thuật và thực tiễn của chúng, người ta chỉ cần biết nên thực hành điều này hay điều nọ như thế nào. Nhưng vấn đề tại sao đi trước vấn đề như thế nào, và giải đáp thì rút cuộc phải tìm trong triết học hay tôn giáo. Không thể trả lời rằng hiểu biết thường thức của con người cũng đã đủ, vì lịch sử đã thường cho thấy cái gọi là thường thức ấy chỉ là di sản của tư biện triết học thưa trước. Con người là một con vật có lý tính, nên nó không thể làm khác hơn là sử dụng lý tính của mình, và khi nó không sử dụng lý tính một cách có ý thức và có triết lý thì nó sẽ dùng lý tính ấy một cách vô ý thức và hời hợt. Điều đó đúng cho tất cả mọi người không có ngoại lệ, ngay cả những người tự cho là đã thoát khỏi triết lý ; họ chỉ là những triết gia tài tử dựng lên những hệ thống vô bổ và hời hợt bằng thái độ khinh thị công trình hiểu biết của những người cao hơn họ quá mức về sức mạnh tinh thần. Khi nào người ta bàn đến tôn giáo bất chấp sự biệt lập của nó đối với triết học, chúng ta phải công nhận rằng phải giải thích và thuyết minh nó phù hợp với bản chất có lý tính của con người. Ở đây, như trong những bình diện khác, sự kiện là nếu ta không thực hành một thuyết minh thiết yếu như thế bằng cách triết lý căn bản lý tính ta sẽ trở thành nô lệ của thành kiến.
Không có gì sai lầm hơn là từ chối tầm quan trọng của triết học đối với sự sống. Một triết gia chắc chắn không luôn luôn chiếm một vị trí lớn trong thực tại thường nhật ; số phận của ông thường chỉ được hiểu biết sau khi chết. Dĩ nhiên, một vài triết gia đã thừa hưởng sự vinh hạnh ngay buổi sinh tiền – Người ta nhớ lại Plotinus, Thomas Aquinas, Hegel và Bergson – nhưng cái mà họ hưởng được đã là một thứ thời trang hơn là một lãnh hội thực thụ về tư tưởng của họ. Một triết gia không đếm xỉa đến những nhu cầu của thời đại và những đòi hỏi hằng ngày. Như vậy có đáng bị khiển trách chăng ? Phải chăng con người, con người thực sự. Hiếm lắm mới có một cường độ như thế, với những quan điểm đối nghịch nhiều như thế và được bộc lộ trong những khuôn mẫu khái niệm vừa tinh tế vừa bác học như thế. Thực sự, có một nền triết học hiện tại theo nghĩa hết thảy các tư tưởng gia đều phải đối diện với những vấn đề nhất định của thời đại và tất cả phải lưu tâm đến một số những lập trường mới mẻ. Nhưng căn cứ theo đó mà nói rằng chỉ có một trường phái hay một khuynh hướng duy nhất thì thật là quá xa vời. Triết học ngày nay rất đa dạng và phong phú lạ thường.
Sau hết, là một ghi chú về cách sử dụng tác phẩm này. Người ta đã từng nói rằng một quyển sách về lịch sử triết học giống như một kim chỉ nam : cũng như kim chỉ nam không thay thế cho những cuộc du lịch, cũng thế, lịch sử triết học không miễn trừ việc nghiên cứu ngay những nguyên văn. Nếu tác phẩm này gợi dậy cho người đọc cái hứng thú nghiên cứu cặn kẽ triết học thời đại chúng ta, thì mục đích của nó đã đạt được rồi vậy.