Luật Tạng

Trong thời kỳ nguyên thủy, loài người sống tập quần trong một phạm vi địa lý, mà ở đó tài nguyên thiên nhiên cung cấp cho nhu cầu sinh tồn chưa trở thành khan hiếm, mỗi cá nhân tự mình thu hoạch tùy theo nhu cầu thường nhật. Cho đến khi ý niệm tích lũy phát sinh, và hệ quả của nó là tích lũy tư hữu, từ đó ý niệm chiếm hữu cũng phát sinh. Trong quá trình chiếm hữu, mâu thuẫn tranh chấp vẫn thường xuyên xảy ra, và con người bấy giở thỏa thuận giao ước về các quy tắc để sở hữu và chiếm hữu đối với thiên nhiên. Tuy vây, các giao ước vẫn thường xuyên bị vi phạm; cho nên cộng đồng nguyên thủy ấy đã bầu nên một người, mà Pāli gọi là Mahāsammato, được tuyển lựa bởi đại chúng; người ấy có nhiệm vụ phân xử các tranh chấp, mà Pāli phát biểu là dhammena pare rañjetīti... ‘rājā, rājā’: Người làm vui lòng mọi người đúng như pháp, được gọi là rājā. Rājā, hay “vua”, như vậy, trong nghĩa nguyên thủy, là vị trọng tài phân xử các tranh chấp xã hội. Đây là khái niệm căn bản của đạo Phật về sự phát sinh của pháp luật, và ý nghĩa xã hội của nó. Luật, như vậy, trước hết là sự giao ước giữa người và người, để điều hòa các mâu thuận xã hội. Nhưng luật chỉ có ý nghĩa, nghĩa là có hiệu lực, khi nào xuất hiện cơ cấu tài phán, tức các thiết chế xã hội, mà theo đà phát triển, nó dần dần trở thành cơ cấu quyền lực dựa trên các hiến chế xã hội.
Sự hình thành và phát triển của Tăng-già, cộng đồng đệ tử của Phật, cũng gần tương tự như vậy. Khởi thủy, là các Thánh đệ tử, sống y trên tinh thần tự giác và tự nguyện, không cần đến sự ràng buộc kỷ luật. Cho nên khi Giáo đoàn phát triển rộng lớn, thâu nhận nhiều thành phần xã hội khác nhau, mối quan hệ nội bộ cũng như ngoại tại càng trở nên phức tạp. Từ đó, nhiều điều luật được Phật quy định. Các điều luật này được tập hợp thành văn, mặc dù nguyên thủy qua hình thức khẩu truyền, trở thành hình thức pháp chế của Tăng-già.
Các điều luật chỉ có thể có ý nghĩa, có giá trị hay hiệu lực thực tế, chỉ khi nào chúng được áp dụng theo các quy tắc chỉ đạo, mà thuật ngữ Luật học Phật giáo gọi là các nguyên tắc trì-phạm. Trì, là những quy định điều gì không được phép làm, và các phận sự phải chấp hành. Phạm, là các trường hợp vi phạm, và các hình thức xử trị.
Như vậy, khi các quy định này bị vi phạm, để xử trị, cần phải có một cơ cấu tài phán. Nhưng trong Tăng-già không có cơ quan tài phán hay giám sát pháp luật thường trực. Chỉ khi nào có sự vụ phát sinh, bấy giờ Tăng họp, và tùy  theo trường hợp mà xử lý, trong phạm vi các nhân từ hai đến ba người, như là các trường hợp hòa giải; hay cần đến phán quyết tập thể; tất cả đều cần được diễn ra theo các thủ tục quy định, như các thủ tục tốt tụng hình sự hay dân sự. Các quy tắc để phán quyết và các thủ tục tiến hành phán quyết được quy định thành một hình thức pháp chế gọi là “pháp diệt tránh”.
Trong tập sách nhỏ này, các pháp diệt tránh ấy được giới thiệu chi tiết. Sách gồm ba phần:
Phần I: Đề cập các trường hợp phá Tăng, tức các sự vụ phát sinh trong Tăng có thể dẫn đến tình trạng Tăng bị phân hóa. Nhưng cho đến mức nào thì mới được gọi là Tăng bị phân hóa, hay “phá Tăng” (Tăng vỡ)? Y trên các trường hợp phá Tăng đã phát sinh trong thời Phật tại thế, như là những án lệ, để từ đó lượng định tình trạng phá Tăng, và theo đó mà các quy tắc diệt tránh nào cần được áp dụng.
Phần II: Giải thích ý nghĩa bảy pháp diệt tránh và các trường hợp áp dụng, thủ tục áp dụng.
Phần III: Trích văn, từ Luật Tứ phần, như là cơ sở văn hiến. Phần này là tư liệu gốc, cần được tham khảo và dẫn dụng thường xuyên, mỗi khi có sự vụ phát sinh.
Trong các phần trên đây, phần II trước kia nguyên là phần giải thích bảy pháp diệt tránh trong Giới kinh của Tỳ-kheo, biên tập trong Tứ phần hiệp chú. Khi được đưa vào tập sách này, nhiều chi tiết được thêm bớt.
Sách được ấn hành lần này chỉ được phổ biến giới hạn, do đó nội dung không cần thiết mở rộng.
Nguyện Tăng-già thanh tịnh và hòa hiệp vì sự an lạc cho hết thảy chúng sinh.
 
 
Thị Ngạn am,
Mùa an cư, 2552
Thích Nguyên Chứng