Chúng tôi muốn bàn đến việc phiên âm, phiên dịch và chú thích các địa danh trong sách Hán Nôm. Địa danh cổ trung đại Việt Nam, có lẽ được giới nghiên cứu lịch sử đặc biệt chú ý. Bởi vì các nhà nghiên cứu lịch sử rất cần đến các sự kiện lịch sử, mà đã là sự kiện lịch sử thì phải biết được rằng nó xảy Ở ĐÂU và vào LÚC NÀO? Chỉ sau khi hai điều kiện tiên quyết ấy được trả lời thì sự kiện lịch sử ấy mới có giá trị để nghiên cứu lịch sử, sự kiện ấy mới được gọi là sự kiện lịch sử, mới được “giải phẫu” theo nghĩa của nhà nghiên cứu. Nếu không đặt sự kiện lịch sử vào địa điểm và thời điểm của nó thì không thể có nghiên cứu lịch sử chân chính được.
Do đó vấn đề địa danh lịch sử không những vô cùng cần thiết cho nhà nghiên cứu lịch sử, mà ở mức độ khác nhau nó cũng cần thiết cho công tác nghiên cứu các khoa học xã hội nói chung.
Địa danh, hay địa danh lịch sử có lẽ là cái mà chúng ta thường gặp nó ở trong hầu hết các thư tịch cũ, đặc biệt trong các bộ sử biên niên của nước ta đã ghi lại khá nhiều địa danh. Bên cạnh những địa danh đã được chỉ định và dễ tìm kiếm trên thực địa, thì vẫn còn một số địa danh rất xa lạ với chúng ta về cách phát âm và cách ghi âm, cách cấu thành địa danh và khó khăn nhất là không thể tìm kiếm dấu tích của nó trong muôn vàn những địa danh hiện đại. Một số địa danh “khó hiểu” ấy, cũng đã được thể hiện trong các bộ sách dịch gần đây. Nhưng vì sao lại có tình trạng “khó xử” ấy với các địa danh?
Nói vắn tắt đó là hạn chế của cả chữ Nôm và chữ Hán trong việc ghi âm, chúng ta biết rằng phần nhiều các địa danh có chữ Nôm và chữ Hán tương ứng và ghi đúng âm, song có một số âm không có chữ riêng, như vậy có một chữ Hán (hay Nôm) dùng để ghi một số âm khác nhau; do đó làm sao khi dịch sang tiếng Việt hiện đại phục hồi được âm vốn có của địa danh cũ ấy? Đó là chúng ta chưa nói đến sự thay đổi liên tục và tùy tiện của địa danh lịch sử thuộc các đời; sự tam sao thất bản và ghi chép sai tự dạng của địa danh và một số nguyên nhân khác nữa, gây ra nhiều khó khăn để chúng ta không thể nào hiểu được các địa danh cổ trung đại ấy.
Công việc sẽ được đặt ra trước các nhà phiên dịch, và đòi hỏi làm thế nào đó để khôi phục lại đúng (hoặc gần đúng) với sự tồn tại của các địa danh trong lịch sử. Việc này liên quan đến sự lựa chọn giữa phiên dịch hoặc phiên âm và chú thích cho các địa danh đó.
Phiêm âm hay phiên dịch?
Cho đến nay, chúng tôi chưa có thống kê cụ thể để nó lên tỷ lệ giữa phiên âm và phiên dịch các địa danh trong các bộ sách dịch từ Nôm và Hán sang tiếng Việt hiện đại là bao nhiêu, nhưng chúng ta dễ nhất trí với nhau rằng phần lớn các địa danh thường được phiên âm dù là từ Nôm hay Hán, còn phiên dịch rất ít gặp. Như vậy theo chúng tôi đã gọi là địa danh thì cứ phiêm âm chứ không nên phiên dịch, nếu phải phiên dịch chỉ là hữu hạn lắm và thuộc trường hợp trong đó không thể phân biệt được từ nào là danh từ chung và từ nào là danh từ riêng của địa danh, dù có phiên dịch đi chăng nữa thì cũng nên để trong ngoặc đơn, sau địa danh đã được phiên âm. Nhất là địa danh thuộc lịch sử cổ đại Việt Nam thỉnh thoảng gặp các trường hợp tương tự, và rắc rối thêm là ở mỗi sách, mỗi tác giả không nhất trí với nhau ngay trong cùng một địa danh. Chẳng hạn như trường hợp Cấm Khê thời Hai Bà Trưng, địa danh này không rõ ràng cả về hình loại và tên gọi, nên đã gây ra nhiều ý kiến rất khác nhau; hoặc một số địa danh có ở trong sách Việt sử lược (đã có bản dịch của Trần Quốc Vượng, nhxb Văn sử địa H.1960) thật là rắc rối, bởi vì dù là phiên âm hay dịch nghĩa thì một số địa danh trong bộ sách này vẫn như một câu đố khó có lời giải.
Như vậy về mặt phiên âm hay phiên dịch đối với các địa danh không có việc gì khó khăn lắm, nó là việc thuần túy kỹ thuật chuyển ngữ; cũng không rắc rối như chuyển ngữ sang tiếng Việt của các tiếng Pháp, Anh, Nga… Nhưng làm thế nào để phiên âm đúng các địa danh cổ, đúng âm như nó đã tồn tại trong lịch sử ở một số âm có cùng ký hiệu ghi giống nhau.
Các địa danh được ghi bằng chữ Hán, tuy một số có cùng ký hiệu, chẳng hạn như: Hiếu – Hảo; An – Yên; Hoàng – Huỳnh; Võ – Vũ,… tất nhiên là phiên âm như thế nào cũng được nhưng phải tôn trọng truyền thống phát âm của địa phương. Chẳng hạn xã Hiếu Hiệp tổng Hạ Hiệp phủ Quốc Oa, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945, dù chữ Hiếu được ghi âm giống chữ Hảo, nhưng không thể phiên âm là xã Hảo Hiệp được; trường hợp tương tự Nghệ An có thể phiên âm thành Nghĩa An, nhưng dường như không thấy ai phiên âm là Nghệ Yên hay Nghĩa Yên; chữ An Nam cũng vậy, không thể phiên âm là Yên Nam được. Chúng ta có thể lấy khá nhiều dẫn chứng tương tự để thấy rằng tự dạng là quan trọng phải căn cứ vào tự dạng Hán để phiên âm Việt, nhưng trong trường hợp chữ Hán đó có nhiều cách đọc thì phải dựa vào cách đọc, phát âm của địa phương.
Một điều nữa là khi dịch sang tiếng Việt một số địa danh có tên Hán, phải trung thành với tên có trong nguyên bản, ở đây chúng tôi muốn nói đến việc dịch thơ, thường người dịch rất coi nhẹ các địa danh trong đó, những địa danh là điển tích có tính chất ước lệ, chúng tôi miễn nói và dịch thế nào cũng được, nhưng những địa danh thật, phản ánh một sự gì đó thì không vì cách gieo vần, và một số khó khăn khác nhau niêm luật… mà chúng ta tự ý đổi địa danh đó: chẳng hạn hai câu thơ của Thái Thuận (1440 - ?) trong bài: Đề Toàn Viên phường sở cư bích thượng:
          Bắc khuyết vô thư can thế dự,
          Tây Hồ hữu nguyệt cấp thi bần.
Lại được dịch ra hai câu sáu tám:
                   Không thư bệ ngọc cầu danh,
                   Có trăng hồ Bạc gợi tình cho thơ.
                                                (Trong Lịch sử thủ đô Hà Nội, 1960)
          Ngay từ thế kỷ XV đã lưu hành tên gọi Tây Hồ rồi, mà dịch giả bài thơ lại dịch thành hồ Bạc, ý muốn nói là hồ Lãng Bạc? ý cũng không đúng, mà cách dịch như vậy cũng không đúng, điều này rất hệ trọng đến việc xác định sự ra đời của tên gọi Hồ Tây ngay trong Lịch sử Thủ đô Hà Nội ấy. Bởi vì người dịch thơ và các tác giả xem thường các địa danh được phản ánh trong thơ, nên đã đoán định rằng tên gọi của Hồ Tây mới xuất hiện từ năm đầu đời vua Lê Thế Tông (1573 – 1600) [Điều này chúng tôi đã có bài “Tên gọi Hồ Tây có từ bao giờ” đăng trong tập Sáng tác Hà Nội số tháng 7-8-1977].
          Những dẫn chứng như vậy không nhiều, song vẫn có thể tìm thấy trong các bảng dịch thơ văn, mà nhiều người nhiều lúc nghĩ rằng văn sử là không ăn nhập gì với nhau cả. Theo chúng tôi thì trong lịch sử cổ trung đại hoặc cận đại đi nữa thì Văn – Sử khó mà tách nhau ở nhiều khía cạnh nhất là ở chỗ phản ánh lịch sử, phản ánh sự kiện…
          Đối với các địa danh được ghi bằng chữ Nôm thì việc phiên âm có khó khăn hơn. Trớc hết chúng ta lưu ý đến hai trường hợp: thứ nhất là đại bộ phận các sách dịch cho đến nay về cơ bản là chữ Hán có một số sách Nôm, nhưng thường ở dạng văn học như: Đại Nam quốc sử diễn ca, Thiên Nam ngữ lục, … ít có giá trị nghiên cứu lịch sủ hơn. Thứ hai là cho đến thời trung đại, nhất là sau những lần nhà nước Lý – Trần – Lê định bản đồ trong nước, thì dường như toàn bộ các địa danh Đại Việt đều đã được Hán hóa; mỗi một làng, thôn… Mỗi một ngọn núi, khúc sông, bến đò… đều đã có tên chữ; nhưng không phải vì thế mà mất hẳn tên Nôm; tuy có tên chữ rồi mà tên Nôm (hay tên tục) vẫn cứ tồn tại, và nhiều nơi vẫn còn đến ngày nay; điều quý báu của tên tục là ở chỗ: dù tên chữ có thay đi đổi lại đến máy lần thì tên tục vẫn cứ như thuở sinh thành, là bất biến, nó cũng được mang theo khi làng gốc đó tách ra, dời đi nơi khác dù với một tên chữ khác.
          Việc phiên âm các địa danh ghi bằng tên Nôm, không phải ở trong các bộ sách sử, mà thường thường có trong các bia ký, gia phải, thần tích… Vì vậy việc phiên âm đúng các địa danh có ý nghĩa rất lớn cho nghiên cứu và cung cấp tư liệu để đối chiếu với chính sử. Trong việc phiên âm các tên chữ được viết bằng chữ Nôm vẫn đơn giản hơn, dầu sao những âm đó đã là Hán Việt hóa. Nhưng việc phiên âm các tên tục (tên Nôm) có khó hơn bởi vì so với chữ Hán thì chữ Nôm có phần nào hạn chế hơn ở các ký hiệu ghi âm, lại là ghi các âm Việt cổ, chưa được (nói cho đúng là không bị) Hán hóa. Trong chữ Nôm, mỗi chữ có nhiều cách đọc, và nhiều chữ có cùng cách đọc. Vậy làm thế nào để phiên âm cho đúng, theo chúng tôi là không thể thoát khỏi tự dạng (đây là chưa nói đến việc sai tự dạng cần phải khảo văn bản) và đặc biệt là cần phải căn cứ vào cách phát âm của địa phương. Ví dụ: xã Ngọc Lôi tổng Dục Tú huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên trước năm 1945 (nay là thôn ngọc Lôi xã trục Tú huyện Đông Anh, Hà Nội) có tên Nôm là Kẻ Lỗi; xã Thạch Lỗi tổng Cổ Bái huyện Kim Anh tỉnh Phúc Yên trước năm 1945 (nay là thôn Thạch Lỗi, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) có tên Nôm là làng Luỗi, Lỗi và Luỗi được ghi ký hiệu Nôm giống nhau, làm sao phiên âm đúng? Rõ ràng phải dựa vào cách phát âm của địa phương.
          Đến đây có vấn đề nữa sẽ được đặt ra là làm thế nào để phân biệt được trong số những địa danh đó đâu là tên chữ Hán đọc theo âm Hán  Việt và đâu là tên chữ Hán đọc thêm âm Nôm ? nhất là ở những địa danh có độc âm. Lấy ví dụ núi Nưa (ở làng Cổ Định huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa, làng này gọi là Kẻ Nưa), trong các thư tịch viết tên gội núi này nếu đọc theo âm Hán – Việt là Na sơn và hiện nay đọc là núi Na cũng được, và có phần đã quen; nhưng thực ra âm gọi là Na ở đây chính là dùng để ghi âm Nưa, và có lẽ nên phiên âm là núi Nưa thì hơn, chứ không phải Na sơn (ghi chú có tên tục là núi Nưa như một số sách dịch và chú). Trở lại quá trình hình thành một số địa danh và quá trình Hán hóa địa danh ấy cho chúng ta cách nhận biết để phân biệt giữa ký âm Hán và đọc âm Hán – Việt hay Nôm. Chẳng hạn sông lam (hay Lam Giang ở Nghệ Tĩnh) vốn có tên gọi là sông Rum (Bao giờ Ngàn Hống hết cây, Sông Rum hết nước họ này hết quan – ca dao cổ) nhưng ở chữ Hán không có ký hiệu ghi và đọc là Rum, Rum là chữ Nôm, vì vậy phải dùng chữ Lam để ghi âm Rum, và về sau thêm chữ Giang vào có được Rum Giang, nhưng Rum Giang thì có vẻ “nôm na mách qué” các bậc nho sĩ không chiụ, và đọc Lam Giang nghe hay hơn mà đẹp hơn nhiều. Hoặc Kẻ Sốm (hay là xã Phú Lãm huyện Thanh Oai, Hà Sơn Bình), làng này tên Nôm là làng Sốm nhưng trong chữ Hán không có ký âm Sốm tương tự, nên phải dùng chữ Lãm ghi âm Sốm; đáng lẽ phải đọc là làm Sốm nhưng chữ Sốm cũng nôm na, và ở mặt nào đó thì làm Sốm vốn có những cái không tốt trong quan hệ, như ngạn ngữ có câu: “Chơi với Sốm không ốm cũng què”, nhân thể Hán hóa tên làng, bằng cách thêm vào trước chữ Sốm (đã được đọc Lãm rồi ấy) một mỹ tự gì đó chẳng hạn như Phú Lãm, Thắng Lãm… Bây giờ thì không còn ai đọc là Phú Sốm, Thắng Sốm…nữa. Chúng ta có thể dẫn ra vô số những địa danh tuy là đã bị Hán hóa nhưng vẫn còn khôi phục nguyên tên Nôm cũ như Nưa, Rum… ở trên; và những địa danh tuy là đã được Hán – Việt hóa nhưng chỉ hóa được một nửa; còn những tên đất Hán hóa hết thì đã quá rõ và khá nhiều dẫn chứng.
          Hiện nay chúng ta chưa có những quy chế cần thiết đối với việc phiên âm phiên dịch các địa danh Hán Nôm sang tiếng Việt hiện đại để làm mẫu, thiết nghĩ cũng nên sớm có bàn bạc và nhất trí được phần nào hay phần ấy.
          Phiên âm, phiên dịch càng đúng, càng chính xác càng tốt, song các địa danh cổ trung đại ở trong các thư tịch cũ, nếu chỉ phiên âm phiên dịch đúng chưa đủ, mà theo chúng tôi thì sự chú thích các địa danh đó là cực kỳ cần thiết, chúng tôi nhấn mạnh lần nữa là cực kỳ cần thiết, là không thể thiếu được trong các bộ sách dịch.
Vậy thì vì sao phải chú thích địa danh? Điều cơ bản là vì địa danh nước ta thay đổi khôn lường, ít có địa danh tồn tại suốt lịch sử cổ trung đại cho đến ngày nay, nói cho đúng là không có, nó chỉ tồn tại dưới dạng dấu tích mà thôi, và rất khó mới khôi phục được tên cũ, tất nhiên phương pháp nghiên cứu địa danh học đã cho ta những chìa khóa cần thiết để mở cửa đi thông vào lịch sử của nó. Chú thích địa danh để nhằm chỉ đúng vị trí hiện tại của nó, chính nó và cả mối quan hệ lịch sử đại đồng, với khu vực rộng lớn chung quanh nó, như vậy để giải đáp được sự kiện ấy đã xảy ra ở dâu. Chúng ta đã thấy ý nghĩa cực kỳ to lớn của sự kiện lịch sử khi được đặt vào đúng vị trí của nó như thế nào rồi. ở đây chúng tôi xin lấy một dẫn chứng thuộc lịch sử cổ đại Việt Nam. Chẳng hạn trước đây trong dân gian và trong giới chép sử đã chỉ định vị trí của Kinh đô Mê Linh và căn cứ Cấm Khê thời Hai Bà Trưng nằm ở bờ bắc sông Hồng (Mê Linh ở xã Mê Linh huyện Mê Linh, Hà Nội và Cấm Khê ở xã Đại Từ huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phú). Với việc chỉ định như vậy thì rõ ràng công việc điều tra thăm dò thu thập tài liệu để nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là rất hạn chế, giới nghiên cứu chỉ có thể đào bới trong thư tịch cũ, khó mà tìm được gì ở khu vực ấy các dạng tư liệu ngoài thư tịch, và cả đến chung cục của Hai Bà Trưng cũng chỉ có cách nhảy xuống sông tự tử để khỏi rơi vào tay giặc mà thôi. Gần đây có sự chỉ định Mê Linh, Cấm Khê thuộc đất các huyện Thạch Thất, Ba Vì (Hà Nội) và Lương Sơn (Hà Sơn Bình)… thì rõ ràng vấn đề này sẽ khác hẳn cả về cách khai thác tư liệu, phạm vi nghiên cứu mở ra rộng lớn hơn, những kết luận rút ra sẽ phong phú hơn; ngay đến chung cục của Hai Bà Trưng phải được xét lại, Hai Bà tổ chức cuộc chiến đâu ở Cấm Khê từ 1 – 2 năm và cuối cùng đã hy sinh vì dân vì nước, mà trong hầu hết truyền thuyết đều nói rằng Hai Bà Trưng “hóa” ở Hy Sơn…
Như vậy việc chú thích địa danh cổ trung đại trong các bộ sách dịch không những nhằm đặt nó và đúng vị trí hiện nay, mà còn có nhiều lợi ích khác cho nhà nghiên cứu, chẳng hạn giúp chúng ta hiểu rõ hơn nữa sự kiện xảy ra ở nơi đó mà lâu nay chưa được làm sáng tỏ; chẳng hạn giúp nhà nghiên cứu tìm hiểu các nguồn tư liệu có liên quan…
Việc chú thích một địa danh sẽ được tiến hành như thế nào? Đây là một vấn đề khó, vì mỗi một người làm chú thích và mỗi một quyển sách dịch có những cách chú thích và yêu cầu chú thích khác nhau; chú thích cho một tác phẩm lịch sử rõ ràng là chi tiết cặn kẽ, và chú thích cho một bài thơ dịch có phần tỉnh lược hơn… Với tư cách là người đọc các sách dịch, chưa từng được dịch và làm chú thích, yêu cầu mà chúng tôi nêu ra có thể là quá cao đối với những người làm chú thích địa danh, nhưng xin được mạnh dạn trình bày suy nghĩ đồng thời là đòi hỏi của chúng tôi với các sách dịch. Trên đại thể, đòi hỏi của người đọc trước những địa danh được chú thích, ít ra phải có những yếu tố sau:
1 – Tên gọi của địa danh được chú thích. Điều này có vẻ là thừa, nhưng xin được nêu lên ở trật tự đầu tiên. Mà lâu nay chưa có ai chú thích địa danh nào mà không rõ tên gọi. Thực tế thì trong các sách sử chẳng hạn phần nhiều các địa danh để thống nhất với nhau: nhưng còn một ít các địa danh giữa các sách là không nhất trí. Chẳng hạn địa danh Cẩm Khê trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng cũng được gọi là Kim Kê, Kim Khê nữa… Tất nhiên sự không nhất trí tên gọi không gây khó khăn lớn cho việc chú thích, và dễ tìm cách khắc phục. Song không phải là không có chuyện.
2 -  Loại hình địa danh được chú thích. Cho đến nay, trong nhiều trường hợp thì việc khó khăn gặp phải đầu tiên khi tìm hiểu để chú thích lại bằng sự xác định loại hình của nó. Địa danh đó thuộc về địa danh hành chính hay địa danh tự nhiên, nó là làng xã, tổng, trấn hay sông, núi, cánh đồng… Ngay trong địa danh hành chính cũng có sự không rõ ràng giữa các cấp độ hành chính. Nhìn chung mắc mớ về hình loại không phải là nhiều lắm, nhưng những trường hợp như vậy là gây cấn khi hiểu về địa danh với sự kiện xảy ra ở đó. Trở lại địa danh Cấm Khê trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, cho đến nay giữa các thư tịch và giữa các thế hệ nghiên cứu có hiểu biết không nhất trí về loại hình. Một số ý kiến thì quan niệm Cấm Khê như một dòng chay. Những ý kiến khác lại cho rằng Cấm Khê như một địa danh hành chính. Gần đây xuất hiện một giả thiết cho rằng Cấm Khê là một căn cứ phòng thủ của Hai Bà Trưng (riêng chúng tôi đồng ý rằng Cấm Khê là căn cứ chiến lược). Từ những khác nhau về nơi chốn đặt loại hình địa danh của Cấm Khê như vậy, nên việc chú thích Cấm Khê cũng khác nhau như chúng ta đã thấy.
Hoặc địa danh Chi Lăng trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1081 của Lê Hoàn thuộc loại hình gì? Các sách sử biên niên không có nhất trí về loại hình của địa danh Chi Lăng. Nó là ải Chi Lăng cũng như chúng ta hiểu hiện nay hay là sông Chi lăng như sử cũ vẫn ghi lại ?
3 – Phạm vi của địa danh được chú thích. Việc xác định loại hình địa danh đã là một công việc khó cho người chú thích và chính từ việc làm này mà phạm vi của chú thích sẽ được làm sáng tỏ hay không. Ở nhiều trường hợp thì việc chú thích phạm vi của địa danh liên quan chặt chẽ đến việc xác định loại hình. Việc làm trước là tiền đề của công việc thứ hai, mà ở những ví dụ trên phần nào đã làm sáng tỏ. Ở mặt này chúng ta cũng chẳng cần ví dụ thêm làm gì nữa.
Vấn đề thứ nữa cần nêu ra khi chú thích phạm vi vị trí của địa danh là phải bám sát sự kiện xảy ra ở đó. Nếu hiểu lầm sư kiện hoặc không nắm vững sự kiện thì việc nhầm lẫn vị trí của địa danh là khó tránh khỏi. Lấy một ví dụ để minh họa. Chẳng hạn bài thơ Bạc Nguyễn gia lăng (cắm thuyền tại lăng nhà Lý) của Nguyễn Phi Khanh. Bài thơ có hai câu đầu:
          Biển chu Thiên Đức hệ tà huy
          Vong Nguyễn hoang khâu dĩ tích thì.
(扁舟天德繫斜暉,亡阮荒丘已昔時).
Bản dịch:
                   Đức giang, thuyền buộc tà dương,
                   Cơ đồ triều Lý gò hoang đã thành.
                   (Thơ văn Lý – Trần tập 3, KHXH, H.1978, tr.443. Bài thơ số 268)
Ở chú thích số 2, tr.444 chép:
          “Thiên Đức: tên cũ là sông Bắc Giang, nhà Lý đổi làm sông Thiên Đức. Theo ĐVSKTT, sông này được nhà Trần đào lại năm Canh Ngọ (1370) chảy qua khu lăng nhà Lý ở huyện Tiên Du. Nay tức là sông Đuống ở Hà Nội – Hà Bắc”.
          Chú sông Thiên Đức (sông Đuống) như vậy không có vấn đề gì. Nhưng chú về khu lăng nhà Lý ở Đình Bảng và hoang khâu (mồ hoang các tông thất nhà Lý), là không đúng. Khu lăng các vua nhà Lý thì không ở gần sông Đuống. Còn hoang khâu ở đây, Nguyễn Phi Khanh muốn nói về sự kiện xảy ra năm 1232 với việc hàng 300 tông thất nhà Lý bị đánh sập chết ở Hoa thôn Thái Đường, và chôn thành mộ lớn. Và chính Nguyễn Phi Khanh đã cắm thuyền gần mồ hoang này chứ không phải gần khu lăng các vua Lý. Mồ hoang ấy nay đã bị lở xuống sông Đuống, thuộc đất xã Mai Lâm huyện Đông Anh. Nếu bám sát sự kiện xảy ra năm 1232 thì mới hiểu được việc Nguyễn Phi Khanh cắm thuyền ở chốn mồ hoang này, tuy rằng đầu bài thơ đề là “Bạc Nguyễn gia lăng” (lăng ở đây hiểu là mồ hoang hay là hoang khâu như ý thơ của tác giả).
 4 – Về sự thay đổi của địa danh được chú thích. Điều này thường xảy ra với địa danh hành chính. Thực ra sự thay đổi địa danh hành chính rất khó theo dõi, bởi vì hiện nay chúng ta thiếu những sách địa lý cần thiết, nên đòi hỏi người chú thích trình bảy rõ ràng sự thay đổi trong các chú thích quả là quá sức. Nhưng dẫu sao nữa đó cũng là một yêu cầu đáng được đáp ứng từng bước. Nhưng tùy tác phẩm và tầm quan trọng của địa danh mà có chú thích đầy đủ hay tỉnh lược.
5 – Vị trí hiện nay của các địa danh được chú thích. Theo chúng tôi có lẽ đây là yêu cầu không thể thiếu được của người đọc khi dùng chú thích địa danh cổ trung đại trong các sách dịch. Ở đây phải có sự phân loại các loại hình địa danh để chú thích, chỉ đúng vị trí tuyệt đối hay tương đối, nhưng tương đối và tuyệt đối đến mức nào lại tùy thuộc vào các điều đã nêu ở trên, và đặc biệt nắm vững địa danh hiện tại.
Chúng ta từng gặp nhiều địa danh được chú thích đúng vị trí địa danh hiện đại, song còn địa danh vẫn còn mơ hồ và sai địa danh hiện đại. Chẳng hạn khi chú về Diễn Châu, chú thích số 2 (bài thơ 122, Thơ văn Lý – Trần tập 3, tr.176) viết: “Diễn Châu: phủ Diễn Châu, ở phía bắc tỉnh Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hóa. Nay thuộc huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ Tĩnh”. Còn ở chú thích số 2 (bài thơ 410. Thơ văn Lý – Trần tập 3, tr.732 lại viết: “Diễn Châu: đây chỉ phủ Diễn Châu, nay là Dương Khê Thượng, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ Tĩnh”. Chỉ định vị trí của Diễn Châu như trong tập 3 – Thơ văn Lý – Trần đều sai và mâu thuẫn. Hoặc địa danh “Thiên Trường” trong các bài thơ 57, 101, 298 của tập 3 – Thơ văn Lý – Trần là hoàn toàn mâu thuẫn với nhau và không đúng địa danh hiện đại.
Như chúng ta đã biết, việc chú thích đúng một địa danh lịch sử khó đến như thế nào, nó đòi hỏi một nỗ lực to lớn và đặc biệt phải có hiểu biết khá chu đáo về địa danh học lịch sử, phải có phương pháp nắm bắt và xử lý các nguồn tin vốn thường bị nhiễu loạn bởi thời gian và bởi sự tam sao thất bản. Nói đúng ra chú thích địa danh là công việc phức tạp, người làm chú thích đồng thời là nhà nghiên cứu, bởi vì thực tế cho thấy rằng không nghiên cứu thì không thể hiểu chứ chưa nói đến việc chú thích. Người làm chú thích phải nắm được thông tin và xử lý tin về địa danh đó, phải theo dõi sát phát hiện mới của địa danh lịch sử. Một mặt khác phải liên hệ chặt chẽ đến sự thay đổi của địa danh hành chính hiện đại, tránh để tình trạng xảy ra chẳng hạn như sách in năm 1978 còn chú rằng “chùa Láng ở xã Yên Lãng huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội”, thật ra từ năm 1968 đất xã Yên Lãng sáp nhập vào quận Đống Đa, nay chùa Láng thuộc phường Láng Thượng.
Đến đây chúng tôi cũng chưa có thể nêu ra được một cách có tín nhiệm những tiêu chuẩn cho công việc chú thích các loại địa danh lịch sử cổ trung đại. Những điều nói ở trên là gợi ý và đòi hỏi của người đọc thì đúng hơn, và đó là đòi hỏi chính đáng có phần quá mức.
Trong khi chờ đợi có một bộ từ điển địa danh, việc chú thích địa danh cổ trung đại có thể trông cậy nhiều vào các bộ sách địa lý lịch sử đã được khảo đính kỹ lưỡng và công phu, cũng có thể trong kho tàng văn bia nếu có sự giám định cẩn thận sẽ là những tiêu chuẩn đúng đắn, tin cậy, rất cần thiết cho mọi người, trước hết là đối với người làm chú thích.
 
 
                                                                                           BÙI THIẾT