Do tình hình phát triển đặc biệt của nước ta, chữ Hán tuy không dùng trong ngôn ngữ thông thường và văn viết ngày nay nhưng không thể coi là một văn tự đã chết. Tầm quan trọng của những văn phẩm chữ Hán cha ông còn để lại, không nói ai cũng biết. Tổ tiên ta dùng văn tự đó hơn nghìn năm, nền khoa học, kỹ thuật, y học, lịch sử, địa lý, phong tục tập quán ngày xưa, một bộ phận lớn văn học, ngay đến thần phả, gia phả, bia… viết bằng văn tự đó, dùng văn chương đó, làm sao không dịch nó ra, tìm cách phổ biến cho người ngày nay dùng được. Phải lấy cũ mà bồi đắp cho mới cũng như lấy ngoài bồi dưỡng cho trong. Thậm chí có gì còn lại trong nước phải bòn cho hết, và tìm cách thu hồi lại những công trình mà Trung Quốc, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Ý, Nhật đã mang đi.
Người đời nay cần biết quá khứ của cha ông, biết để nhớ ơn và yêu nước thêm, biết để học tập, đẩy cuộc sống lên ấm no, hạnh phúc cho con cháu.
Muốn vậy, phải tăng cường dịch thuật. Tăng cường dịch thuật rẻ hơn là mở rộng học ngoại ngữ. Về chữ Hán lại càng dễ thấy hơn. Về chữ Hán, nếu tổ chức cho các trường phổ thông đều học thì chắc không thể được, vì tốn kém quá, vì thiếu người dạy, học sinh nản vì khó, phụ huynh ít đồng tình. Nhưng ở các khóa văn, sử trường Đại học, trường Cao đẳng sư phạm, nhất thiết phải dạy. Nếu không, những giáo viên, những cán bộ nghiên cứu của ta khi ra trường không thể là những giáo viên văn sử giỏi hay những người làm công tác nghiên cứu giỏi. Còn ở trường phổ thông, những áng văn hay của ta đời xưa có thể và nên học qua những bản dịch tốt.
Nhưng việc dịch để phục vụ độc giả thông thường và giới nghiên cứu, giới giảng dạy vẫn là quan trọng bậc nhất.
Dịch chữ Hán sang tiếng Việt có một số thuận lợi:
1 – Thể điệu, thi cách giống hoặc gần nhau.
2 – Văn phạm giống nhau, ít nhất là tai ta quen.
3 – Âm hưởng, tiết tấu có phần dễ bảo tồn hơn là đối với thơ Âu Châu.
4 – Nhiều từ và bộ phận câu xưa nay nói như nhau, chỉ cần chuyển qua thôi. Tục khách thì để tục khách hoặc chuyển thành khách tục đều được. Tôi còn nhớ anh tôi dịch một bài thơ có câu: “Kiếm mã giang hồ nhất trượng phu” ra “Kiếm mã giang hồ một trượng phu”. Tôi nói dịch thế thì dịch gì? Ông bảo: Thế mày dịch thế nào? Tôi nói: “Gươm ngựa sông hồ không được hay sao? Ông hỏi: Còn “trượng phu”?. Tôi nói: thì phải để “trượng phu” thôi, người ta vẫn hiểu. Ông bẻ lại: Thế tao để Kiếm mã giang hồ họ không hiểu sao? Tôi thua vậy.
Nhưng cái khó thì nhiều vô kể và rất khó.
1. Với độc giả thanh niên ngày nay, nhiều từ hoặc từ hội người lớp trước không dịch vì quen quá, ngày nay đã thành lạ, không hiểu được. Chẳng hạn thư trai, lớp trước ai cũng hiểu, nhưng lớp tuổi 20 trở xuống ngày nay thì không hẳn đều hiểu. Khi một học sinh năm thứ tư Đại học Văn viết “hồn nàng xuống cửu trùng, uất hận vẫn chưa tan” rõ ràng là dùng từ sai mà không hiểu thì cũng nên đề phòng họ hiểu thư trai là thư của bạn trai chứ chẳng chơi.
2. Chữ Hán nhiều đồng âm quá, khó quán xuyến.
3. Văn phạm cũ, người đời nay có thể thấy thiếu logic, còn người dịch thì quen văn cũ, có khuynh hướng chuyển y nguyên.
4. Văn chữ Hán cũ không chấm câu. Văn Âu châu chấm câu phân minh giúp cho người ta mau hiểu. Văn Hán, dù người giỏi, cũng phải đã từng đọc bài đó, tác phẩm đó rồi nay mới đọc thành câu được. Nếu không quen phải đọc từng đoạn, có khi đọc 2, 3 lần mới thấy rõ câu kéo.
5. Rất ít dùng chủ ngữ, bổ ngữ. Chẳng hạn cùng nói một việc, câu văn Pháp nếu ta dịch sát từng chữ một thì: “Anh đưa tay của anh lên tát vào má của tôi, tôi đau quá bỏ chạy, anh liền gọi lại”. Còn câu văn Hán thì: “Đưa tay lên tát má, tôi chạy, bèn gọi lại”. Dịch văn Pháp theo kiểu trên thì ngô nghê, dịch chữ Hán theo kiểu dưới thì tối nghĩa.
Một bài thơ đề Thuật hoài như bài của Đặng Dung, nếu là thơ Pháp, ngôi thứ nhất sẽ rất rõ và nói về sự việc ngoài cái tôi cũng dưới góc độ của cái tôi chủ quan. Nhưng bài Thuật hoài thì chủ ngữ thay đổi ở từng câu ta phải đoán lấy. Bài Quá Hải Vân quan cảm tác của Trần Quí Cáp có hai câu thực, chúng tôi đang phân vân về ý nghĩa do chủ ngữ không rõ:
Sầu nhãn vọng cùng thương hải ngoại,
Nộ quyền huy phá bạch vân đoan
Nhãn quyền đó chỉ về người hay cảnh vật?
6. Đối với thơ, thơ Âu ở một thời nào đó, người ta đòi hỏi cô đọng – riêng tôi cũng thích thư cô đọng – nhưng vì ngữ pháp của họ, nên cô đọng mấy cũng hiểu được, nếu không dụng ý làm thơ bí hiểm. Thơ chữ Hán thì cô đọng quá. Cũng vì muốn cô đọng nên hay dùng điển. Một câu thơ cô đọng, không có chủ ngữ, bổ ngữ, đại từ, liên từ, trợ từ, lại dùng điển nữa (điển càng khó càng hay chúng ta sẽ thấy khó hiểu dường nào, mà hiểu được thì cũng làm sao mà gói dịch được trong 6, 7, 8 tiếng như nguyên tác).
7. Một cái khó nữa mà mỗi khi vấp phải, mất thì giờ hỏi han, tra cứu nhiều lắm, mà rất không đáng vất vả như vậy: văn chữ Hán không viết hoa tên riêng. Có những tác giả dùng điển lạ có tên riêng, mình không biết thì làm sao nhận nghĩa được, và cứ tìm tòi như nó là một từ chung làm sai phương hướng. Sách sử bằng chữ quốc ngữ trong một thời gian dài đã viết Võ Công Tánh, Trương Công Dự hay như Nguyễn Công Trứ chứ không ngờ công đây chỉ là một trạng từ có nghĩa là ông thôi. Cuốn Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX, Nguyễn Đình Chú chủ biên, khi chú dẫn về Ngô Đức Kế, viết ông bị án sát Cao Ngọc Lễ và lãnh binh Ngụy Tác Hạ vu cáo, viết Ngụy Tác Hạ là Ngụy Vô Kỵ, Ngụy Thủ, Ngụy Diên. Là vì ban án mà Huỳnh Thúc Kháng lục dẫn viết thế. Thực ra thì “ngụy tác hạ” chỉ có nghĩa là kẻ làm giặc (ngụy tác) tên là Hạ, vì có nghiên cứu lịch sử và văn học thời 1938 – 1945, tôi mới biết tên Hạ trước là thủ hạ của Phan Đình Phùng, lúc này bị quan Nam lợi dụng bệnh nghiện để khai vu cho ông nghè Ngô, Theo Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký và vụ Kháng thuế ở Trung kỳ thì lúc ấy, Hạ không có quan chức gì. KHông biết chức Lãnh binh đó do nghĩa quân Phan Đình Phùng phong trước kia hay Pháp thưởng sau này.
Dịch chữ Hán không phải là chỉ cần biết chữ Hán và Hán văn giỏi. Dịch văn thơ một thời, như trên kia tôi đã chứng thực, phải biết lịch sử thời ấy, tiểu sử người ấy, không khí thời ấy, trường hợp làm thơ, nhiều khi phải biết rộng và chi tiết hơn nhà sử học nữa. Ví dụ: nhà sử chỉ cần biết Tống Duy Tân hoạt động cách mạng như thế nào, bị chết thế nào, về Cao Ngọc Lễ thì cũng không cần biết kỹ đến thế, nhưng người dịch văn học lại cần phải biết Lễ là học trò của Tống Duy Tân và đã phản phúc tàng công mà hại thầy như thế nào, mới dịch và chú thích được câu:
Vô địa khả mai Cao Ngọc Lễ.
                                                                     Đọc câu: Cổ kim hận sự thiên nan vấn.
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
mà cứ theo chữ mà dịch nghĩa người làm văn học dù có dịch cho xong mới có gạo nấu bữa tối cũng không nỡ làm thế. Phải biết thân thế Nguyễn Du và câu chuyện nàng Tiểu Thanh đã.
Dịch sách thuốc mà không biết Đông y, có ai tưởng tượng được không? Người dịch sách thuốc phải biết y học không thì dễ bị cũng như anh lang băm dốt chữ mà làm thuốc làm chết người như không, vì cho người đau bụng uống nhân sâm. Chính tôi đã từng nghe một ông thầy thuốc bày cho họ dùng một toa thuốc có vị sương đầu thảo, bảo là lấy sương ở đầu ngọn cỏ, thì có một ông thầy thuốc khác bảo: đó là loại cỏ tên là “sương đầu”. Quả nhiên đến hiệu thuốc Bắc có vị đó. Lớn lên tôi biết không phải ông này chỉ dốt thuốc mà dốt cả chữ Hán vì văn phạm chữ Hán muốn nói sương đầu cỏ thì phải nói thảo đầu sương chứ.
Về ngành gì cũng vậy, muốn dịch sách về ngành nào phải có chuyên môn của ngành đó.
Về việc dịch Hán Nôm của chúng ta, tuy số đào tạo được hãy còn ít, nhưng tôi nghĩ cũng cần phải chuyên hóa sau khi đã có một trình độ phổ thông tạm ổn.
 Chuyên môn văn học, sử học, địa lý học, y học, thực vật học… Vào văn học hay sử học lại cần phải chuyên vào một giai đoạn. Nhất là văn học rất khó, nên càng phải chuyên hẹp. Chẳng hạn muốn dịch thơ Lý Trần, phải hiểu biết Phật học nói chung và các thiền phái Việt Nam nói riêng. Thời Nguyễn Trãi chữ Hán về từ ngữ, cú pháp có đặc thù gì, lại cần phải chuyên. Chẳng hạn chữ Nôm trong Quốc âm thi tập đã có nhiều lời trao đổi, hiện tại đã có anh chị em nào định bỏ ra 5, 7 năm nghiên cứu chưa? Chữ Cople của Ai Cập ở thế kỷ XVIII tuyệt đối không còn ai biết, còn sách, bia khắc mà chịu không đọc được. Napôlêông đem một số bác học qua, họ mày mò nhiều năm, sau đọc được cả, khám phá ra nhiều kỹ thuật thất truyền và sử liệu độc
Rồi còn chuyên thơ, chuyên văn xuôi. Quen thơ chữ Hán một thời, tự mình làm thơ cũng thạo, mới dịch thơ tốt, dù chỉ dịch ra văn xuôi. Tôi có đọc cuốn Văn bia dịch của Viện Hán Nôm, tôi không đối chiếu nguyên tác được, nhưng thấy hơi văn các đời có khác nhau, và cách chọn từ, xếp câu, tôi biết các vị làm chu đáo, ít nhất là hết sức mình lúc bấy giờ.
Yêu cầu lý tưởng của dịch là: 1) Đúng tinh thần và ý tứ. 2) Dịch ra một thứ văn Việt Nam nhất và hay. Hay về mỗi loại có khác nhau đấy. Hay của bất cứ loại nào cũng phải là gọn. Hay của khoa học, lịch sử phải là rõ nhất, dễ hiểu nhất. Đối với văn học, dịch hay khó nhất. Hay ở đây phải diễn đạt được rõ không những ý, mà còn tứ của người ta, những tứ tinh vi nhất (cần nói là đến thế thì cái rõ phải dừng lại ở mức người có văn hóa, có tâm hồn đọc mà thôi, không hy vọng tất cả ai đọc cũng thưởng thức được). Phải diễn cho được giọng thơ của người ta: hùng, trầm hùng, u uất, u hoài, bi thiết, hóm hỉnh, mỉa mai, cười cợt, ngạo mạn. Âm hưởng của bài thơ, câu thơ phải cố diễn lại. Trong văn chương, nội dung và hình thức quyện vào nhau. Nhất là trong thơ, một ý sáo cũ diễn đạt lại có hình ảnh, có âm hưởng lại hóa nên hay nhất. Trăng rọi qua cửa sổ là thường, nhưng nguyệt thôi song vấn thi thành vị thì nguyệt đã thành người, đã thành nàng thơ ân tình và linh hoạt, và tiếp câu Quân vụ nhưng mang vị tố thi thì cả một bức tranh sống hiện ra: một chiếc lược cũng làm nhà thơ mơ màng dưới ánh trăng rọi chếch qua song.
Nên dịch thơ ra thơ hay ra văn xuôi? Với đông đảo bạn đọc, họ ưng đọc bản dịch thơ hơn. Nếu khó có bản dịch vừa sát vừa hay thì chúng ta hãy tạm bằng lòng cung cấp cho đại chúng bản dịch đúng tinh thần và đủ ý tứ chính nhưng phải là thơ. Rồi thư thả các bạn Hán Nôm và các bạn làm thơ sẽ dịch lại, lâu lâu chúng ta lọc thành một tập tuyển dịch in ra để thưởng thức và học tập. Về thể loại thì thế nào? Thơ 5 tiếng, 7 tiếng mà dịch ra lục bát nhiều khi vấp câu trên thiếu chữ, câu dưới thừa chữ. Nhưng ngũ ngôn và thất ngôn của ta khó làm và không uyển chuyển, trữ tình cao bằng lục bát và song thất lục bát. Và hai lối thơ thuần Việt này khi cần hùng hoặc triết lý thì không thuận bằng thất ngôn, ngũ ngôn. Vậy nên tùy bài, tùy giọng mà dịch. Và đáng dùng nhiều hơn các thể cổ phong, thơ tự do không hạn chữ, hạn vần.
Điều cốt yếu là tất cả văn thơ đáng dịch của ta đều phải được dịch. Bằng văn xuôi cũng được. Người Pháp, người Anh có mấy bản dịch thơ Đường, mỗi câu ra mỗi câu dài ngắn tùy cần mà nhịp nhàng, có hình ảnh, có nhạc điệu, không cần vần, chỉ dùng hòa âm, điệp âm thôi mà thấy rất thơ. Ta mà làm thế thì có phần dễ hơn họ vì âm hưởng thơ chữ Hán và thơ quốc âm gần nhau. Tôi thấy trong các sách hợp tuyển của ta, có những bài gọi là “dịch xuôi” hoặc “dịch nghĩa” lại thơ hơn bài dịch thơ.
Cũng nên bàn qua về những bài dịch cũ. Phải tỉnh táo xem xét, đối chiếu. Tác giả tự dịch hoặc người đương thời dịch lẫn nhau thì giọng thơ và không khí bài thơ thường là bảo đảm. Nhưng người đời nay dịch thì chu đáo về nghĩa hơn. Bài dịch cũ, nhiều bài đạt, còn đôi chỗ chưa đạt thì chỉ cần chú thích lưu ý độc giả. Tác giả tự dịch thì lắm khi hóa ra một bài thơ mới. Nguyễn Khuyến về nhiều đề tài có một bài chữ Hán, một bài dịch Nôm mà đọc nghe như hai bài khác nhau, đôi khi đều hay cả. Phan Châu Trinh cảm đề truyện Giai nhân kỳ ngộ:
Âu Á phong trào hám ngũ châu
Anh hùng tâm toái tự do lâu
Bạch đầu tráng sĩ chân ưu quốc
Hồng tụ giai nhan giải báo cừu…
                    bản dịch:
                            Cụm sóng Âu châu đập cái đùng
                            Tan gan nát ruột kẻ anh hùng
                            Kia người tóc trắng còn chăm nước
                            Đến ả mày xanh cũng biếng chồng.
 
thì ngang bướng quá, chỉ có câu thứ ba là đúng ý tứ, Phong trào Âu Á biến thành Cụm sóng Âu châu, hám ngũ châu lại hóa ra đập cái đùng, khung cảnh tự do lâu dịch giả bỏ đi. Màu sắc rất quan trọng trong thơ: Viết hồng tụ giai nhân ta hình dung ra người con gái đẹp, còn ả mày xanh thì trừu tượng quá, và tiếng ả lại khinh bạc. Báo cừu mà đổi thành biếng chồng thì “loạn” thật. Người ta biếng chồng vì ế, vì già kén chọn, vì bệnh, vì sợ túng thiếu, sợ có con… một trăm thứ, đâu phải chỉ vì để báo cừu, một chứng cứ khá hiếm có, làm sao liên hệ được.
Trái lại có bài dịch rất phóng khoáng nhưng rất khớp tinh thần. Bốn tháng trước khi mất, Huỳnh Thúc Kháng có bài Thất thập tự thọ ở Liên khu V, cuối năm 1916:
Huỳnh Thúc Kháng tiếu kha kha.
Tứ phương tam kỳ chi gia.
Quốc giả hương giả tộc giả hữu da? vô gia?
Đắc nhất tri kỷ kỳ nhi lả hà !
                  Cụ tự dịch:
                            Gẫm ta ta cũng nực cười,
                            Nhà nhà ba cõi người người bốn phương.
                            Nghĩ đến nước đến làng đến họ
                            Có hay không? Không có? Có không?
                            Bảy tuần đầu bạc như bông
                            Được người tri kỷ thôi xong đã già.
 
Tôi nghĩ rằng khi xuất bản cho đông đảo bạn đọc dùng nên dịch thơ, có khi không cần có bản dịch nghĩa cũng được. Nhưng cho một công chúng cán bộ công tác khoa học xã hội, bản dịch nghĩa và những chú thích có khi cần thiết hơn và chúng tôi đặt nhiều hy vọng vào Viện nghiên cứu Hán Nôm.
        HUỲNH LÝ